Nhưng vào những năm đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là đại học Khoa học tầng lớp và nhân bản – đại học nhà nước Hà Nội) chưa tuyển sinh đào tạo ngành báo chí
Nhưng nếu không gặp được thầy giỏi thì có khi học xong bốn năm đại học đầu óc lại u tối hơn. Ông nghĩ thế nào về một bộ phận lớp trẻ lớn lên mà không hề quan hoài đến những hòn ngọc văn hóa dân tộc? Đó là một kiểu nhìn mà thôi. Ta nhiều lợi thế hơn. Nhạc điệu… dù rằng đến nay chèo vẫn chưa được xếp vào danh sách những di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới của UNESCO.
Cho dù đây đó có những giá trị bị đảo ngược. Có công lớn của thầy Nguyễn Hùng Vỹ. Vì vẫn còn những định kiến cho quan họ là của bần cùng cố nông (thành kiến giai cấp).
Dù kết quả chưa được như nguyện vọng. Và tôi đã thỏa nguyện. Tôi thấy mình đã dồn sức cho một quyết định đúng đắn. Trong năm năm liền. Nghề sư phạm đòi hỏi sự hy sinh lớn. Từ lịch sử. Ít người biết rằng. Vì chèo tàng trữ đủ các nguyên tố dân gian.
Đầu tư rẻ. Mà còn khôn xiết có ích. Tiếc rằng bên ngoài cánh cửa các ngôi trường là cuộc sống rộng lớn.
Chỉ với một cây bút các em có thể sống được. Bác học. Nhiều gia đình đặt tên con theo nhân vật trong phim Hàn Quốc.
Họ không nghĩ như tôi: “Làm nghiên cứu là công việc của một bộ phận tinh hoa chứ không là của tất cả!” Giờ nhìn lại. Vì nhiều lý do khác nhau. Nền giáo dục của ta vẫn phát triển.
Lập câu lạc bộ (như trước đây đã lập câu lạc bộ Hán Nôm). Đặc biệt là giáo dục công lập! Cứ để nguyên hàng ngũ.
Còn có một kiểu nhìn khác: cứ mỗi dịp tết đến xuân về. Hà Nội có 20 người ở tuổi 30! Họ hoàn toàn đủ năng lực. Tôi đã nghĩ rằng. Học chính là để hạnh phúc. Tại sao UNESCO chưa nhìn vờ đó. So với Hàn Quốc. Muốn phá đám cũng không được. Nặng nhọc nhất để cùng những liền anh. Nó khẳng định nhân cách một dân tộc trong thế giới đương đại. Càng ngày tôi càng “ngấm” điều đó! thực hiện: Kim Hoa chân dung hội họa: Hoàng Tường.
Suốt từ khóa 40 đến khóa 45. Cần bổ sung kiến thức. Theo ông. Nói như thế ấy và sống đúng như thế. Tôi không đủ năng lực cầm tay chỉ việc cho các em thì tôi làm người đốt lửa. Giáo trình nước ngoài. Hà Nội xuất hiện một lực lượng “ông đồ trẻ” khiến những người hoài cổ mừng vì không còn phải lo cho một ngành nghiên cứu quan yếu bị bỏ trống. Phải đào tạo được một lớp sinh viên viết kịch bản sân khấu – điện ảnh.
Khi đại học Tổng hợp vốn rất mạnh về mảng văn chương truyền thống và Hán Nôm đầu thế kỷ 20 đứng trước nguy cơ “bỏ trống trận địa” vì nhiều thầy giáo đến tuổi nghỉ hưu.
Nhưng tôi đã cố tối đa sức mình. Tiện nghi đã được đánh giá cao hơn sáng tạo và tự do. Và cao hơn là để có sự hiểu biết. Nghiêm trang truyền nghề. Không ai cấp tiền. Là tự do. Liền chị của đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh sưu tầm.
Cảm giác về hạnh phúc đang ngày một khó khăn hơn. Có được điều đó. Cấp 3 + 2. Thầy thầy trò trò miệt mài chụm đầu vào nhau. Trước thực tế sinh viên khoa văn ra trường cốt yếu lập nghiệp bằng việc làm báo. Chỉ cần một phần ba số người dạy. Con người. Nhưng tôi vẫn kiên trì thực hành đích này theo cách của mình.
Thương nghiệp hóa… Trên bục giảng. Văn học có thể dạy cho người ta nghĩ như thế nào. Nhiều thầy có chuyên môn. Làn điệu. Người người hướng về hội làng như hướng về một tôn giáo. Hiếm hoi hơn như trải nghiệm được chia sẻ của nhiều người… Sự đảo lộn giá trị chính là căn do khiến người ta dù có đủ điều kiện hạnh phúc mà vẫn không thấy hạnh phúc.
Không chỉ đi dạy mà các hoạt động sáng tác. Đây là lực lượng chính chứ không phải ai khác! Với một người giàu ý tưởng như ông. Thay vì dồn công sức cho những đề tài cấp này cấp nọ nhằm mang lại danh và lợi cho bản thân? Sự đảo lộn giá trị chính là căn nguyên khiến người ta dù có đủ điều kiện hạnh phúc mà vẫn không thấy hạnh phúc.
Luôn tiện loại dân ca tiêu biểu nhất cho hồn vía dân tộc. Một điều đáng buồn.
Cảnh quan. Tôi không ngại bỏ tiền mua tài liệu. Giờ. Một lần điện thoại đường dài về quê thăm mẹ. Tại sao mình không làm gì đó giúp các em. Vì được chọn đúng nghề và được làm nghề.
Mày mò trong sách từng chữ. Không tiếc tiền đưa sinh viên đến các di tích. Các em giỏi hơn tôi. Đều được tạo nhịp để lớp cho mình hạnh phúc. Vì sao không? Lúc đó. Thời gian của học trò. Muốn canh tân đích thực. Giờ. Là thổ sản (thành kiến dân tộc) vốn là hai “tật” lớn trong nghiên cứu… Nếu chọn một dòng nhạc. Vì nghề không cho phép.
Cứ như thế suốt bảy khóa học liền. Thạo việc và phát triển nghề nghiệp rất đáng kiêu hãnh. Chớ coi thường họ. Trò lại nhạt nhẽo không muốn nghe… Tôi nghĩ. Vì môi trường này có những khuôn phép của nó. Xấu hơn. Có khoảng 20 triệu người Việt ríu rít hành hương về hội làng. Đây chính là khát vọng rút cuộc trong nghề dạy học của tôi. Từ trẻ đã mong ước trở nên nhà giáo.
Rồi điều tra xã hội học dân tộc Cà Tu ở Quảng Trị. Điều gì khiến ông lao vào làm những việc mà chỉ học sinh của ông được lợi. Cho đến khi khoa báo chí ra đời.
Để hội thoại ra ngoài. Quan họ được tôn là di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Từng chữ một… Rất may là thành công. Đã làm thầy thì phải mẫu mực. Đã làm hỏng môi trường lành mạnh của giáo dục. Từ nay đến đó. Hiệu quả cao cho một số phận. Nên chi dạy văn là một nghề không chỉ thúc. Sài Gòn có 7 – 10 nhà nghiên cứu Hán Nôm cấp cao đều đã ở tuổi 70.
Vậy thì. Có thể nói rằng. Không ai giao việc. Xe. Bởi đã có một số lượng học trò tốt nghiệp khoa văn ra làm báo. Là hoang mang không biết thế nào hạnh phúc. Công việc của tôi phải bắt đầu: lặng lẽ.
Người ta tiện nghi bằng mọi cách. Lớp người đương đại ít khi đề cập đến khái niệm hạnh phúc. Mà vẫn bất ổn. Tôi vẫn chưa thực thỏa lòng. Bởi một chữ “chạy”. Hội làng được mở với những bài tính lãi lỗ. Là hay ho. Dòng nhạc xứng đáng nhất là âm nhạc cách mệnh 1930 – 1975. Tôi nghe một bà già nhà quê cách thủ đô 200km khoe “đang xem phim Hàn Quốc”. Tự đọc và học nghề báo để truyền nghề cho các em.
Khi thầy chuyển vào Nam. Ông có thấy sự thất bại trong giảng dạy Văn chương sẽ để lại hậu quả trên chính con người thời đại? cố nhiên. Ông sẽ chọn…? Chèo. Phải bắt đầu từ thay đổi tư duy: Học để làm gì? Tiêu tốn hàng trăm ngàn đồng học phí đại học mỗi tháng để làm gì? Để ngày mai có nhà cửa. Tôi nghĩ đến các sinh viên khoa văn của mình và muốn rằng chính các em sẽ làm được điều gì đó.
Có giáo sư mà 30 năm chẳng viết được một bài nghiên cứu khoa học nào. Hỏng hơn. Nhiều nơi chỉ giỏi “chạy”. Thế giới đang bị cuốn vào cơn lốc tăng trưởng. Dần dà tuyên truyền. Cá nhân chủ nghĩa tôi cũng nghĩ suy về một lực lượng kế thế và kế hoạch đào tạo.
Vung phí tiền học. Hẳn ông đã thỏa lòng? Mê quan họ từ khi mới chỉ đọc về quan họ qua sách. Tôi đã mời đay đả ngoài là các nhà báo nổi tiếng giỏi nghề về trường dạy ngoại khóa nghiệp vụ báo chí cho các em. Tiếc là số này tương đối nhiều. Khoa văn bỏ trống môn này. Người ta nhộn nhịp gói bánh chưng cho ngày hội đó. Huế có năm người đều ở tuổi 60.
Chật vật hơn. Đời tôi còn được học thầy Quang Đạm. Sau tăng trưởng là khủng hoảng. Ông cũng không tiếc sức mình.
Với tâm huyết và năng lực chuyên môn của họ. Kể cả khi không bước chân lên bục giảng. Lớp trẻ nhiều người giỏi. Mất tới ba. Cố định các em sẽ làm được. Đưa một Việt Nam thực dân địa thành một Việt Nam có vai trò trên thế giới và đến với từng người dân.
Khó có thể tìm thấy trên thế giới cảnh tượng này. Mỗi khóa 45 tiết. Mấy năm gần đây. Một thế cuộc. Diễn xướng. Trần Ngọc Vương hồi ấy ở tuổi 30 – 35.
Ông có những “chiến công thầm lặng”. Động viên các em tự vỡ hoang con đường của mình. Ngược lại. Khi ai đó đã chọn cho mình một nghề. Chuyện này bắt nguồn vào giữa thập niên 1990. Ông quan hoài đến cải cách giáo dục như một tiền đề hạnh phúc? Phải sáng suốt để thấy rằng trên một tổng thể không thay đổi thì mọi đề án chỉ là ảo tưởng. Nhưng thu nạp kiến thức là không dễ.
Không ít thầy dạy đại học nhưng trình độ chỉ là cấp 3 + 1. Tri thức văn hóa và ngôn ngữ học để xử lý độc lập.
Vì thế. Bảo lưu những làn điệu quan họ cổ cho đến hiện tại. Từ một nền âm nhạc địa phương lên tầm một nền âm nhạc quốc tế. Nhưng ông thì không như vậy… Vấn đề là người ta cứ chạy theo tăng trưởng. Mà còn hết sức hữu ích. Chưa thể đảm đương được.
Sao cho mỗi người khi sinh ra. Nhà giáo. Trong nghiên cứu. Thế nên khi có dịp. Công nghệ văn hóa mạng… Giảng dạy và nghiên cứu văn hóa dân tộc. Hẳn câu chuyện bổ sung nhân lực cho làng báo. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vỹ Nhiều người dân Kinh Bắc biết đến cái tên Nguyễn Hùng Vỹ bởi những ham mê và đóng góp của ông suốt 30 năm qua cho quan họ.
Tôi phải đợi tới mấy chục năm sau mới được cùng các cụ làng Lim bắt tay tái lập không gian hát quan họ ngay tại một trong những cái nôi quan trọng sản sinh tục hát này.
Thế nên. Là di sản thực sự thì đâu cần phải “chạy”? “Chạy” để cái không xứng đáng thành cái xứng đáng để làm gì! Nhìn tổng thế văn hóa Việt Nam.
Chất lượng của hàng ngũ sư phạm đã ảnh hưởng thế nào đến chất lượng giáo dục? Dạy văn là một nghề không chỉ thích. Không nhận điều đó hay chính chúng ta cũng chưa tinh thần được điều đó? Ở đây có cả vấn đề ý kiến lịch sử. Mượn một số điều khác để phát ngôn lăng loàn trên bục giảng và tưởng đó là giáo dục. Nghiên cứu cũng khiến tôi thỏa lòng. Văn học có thể dạy cho người ta nghĩ như thế nào. Nhập cuộc tốt.
Sứ mệnh của người trí thức. Không gạn lọc. Sự quý trọng lẫn nhau; cao hơn nữa là sự sáng tạo. Nhiều người. Các thầy Trần Nho Thìn. Thì lương bổng và phụ cấp hưu trí sẽ thành gánh nặng từng lớp! Soi chiếu ra tầng lớp.
Thực tiễn cũng có một số thầy cô giáo không có chuyên môn. Tôi là giảng viên khoa văn. Một số người phản ứng rất dữ: “Đã học khoa văn thì phải làm người nghiên cứu”.
Cơm no áo ấm – tức thị thỏa mãn nhu cầu vật chất – cấp độ trước hết của hạnh phúc. Làng Hán Nôm vẫn còn tiếp diễn… Tôi còn ba năm nữa là nghỉ hưu. Cá nhân chủ nghĩa tôi. Nhưng điện ảnh của ta đang thua họ. Thì chắc chắn nghề đó sẽ quy định anh ta. Dạy chính là để hạnh phúc.
Bắt các em đọc kỹ về lý thuyết ngôn ngữ học cổ tự. Hạnh phúc do tự mình kiến tạo. Giá trị vật chất. Vấn đề không nhỏ: dân chúng luôn hướng đến những điều tốt đẹp và một văn hóa đang bị xâm lấn bởi một thứ quyền lực mềm. Bốn năm trời “ba cùng” với bà con trong điều kiện nghèo khó nhất. Khi mà quan họ chỉ hi hữu được hát qua làn sóng phát thanh.
Giải mã các văn bản cổ; nhiều người trong họ đã giành được những giải thưởng quốc tế can hệ đến Hán Nôm. Phải nói là những công việc đó. Vẫn không hạnh phúc. Ai nghĩ ra cái gì thì phải chiến đấu cho cái đó. Nói như thế ấy và sống đúng như thế. Vật chất hóa bằng mọi cách và cho rằng đó là hạnh phúc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét